Lịch sử Angkor

Angkor trong tiếng Khmer cổ có nghĩa là kinh đô hoặc thành phố huyền diệu. Trong cách dùng ngày nay thì Angkor được hiểu là tên kinh đô của đế chế Khmer tồn tại ở Campuchia từ thế kỷ thứ 9 đến thế kỷ thứ 12 sau công nguyên và bản thân một thời đại Angkor. Những di tích đền đài nằm trong khu vực Siem Reap là những gì còn sót lại của một kinh đô thời đại Angkor và biểu hiện rõ nét một nền văn hoá, kiến trúc, nghệ thuật của người Khmer cổ.Vào thời kỳ đỉnh cao của văn minh Angkor, khu vực thủ đô Angkor có dân số cỡ 1 triệu người. Các vị vua Khmer đã xây dựng các công trình thuỷ lợi và đền đài vĩ đại. Kinh tế và quân đội Khmer cũng đạt đến mức vượt trội so với Thái, Lào và Việt Nam đương thời.

Thế kỷ thứ nhất sau Công nguyên: Ảnh hưởng của Ấn Độ giáo.

Khu vực Đông Nam Á đã có dân cư sinh sống từ thời kỳ đồ đá nhưng nền văn minh Angkor chỉ thực sự hình thành từ thế kỷ I sau công nguyên. Bước sang thiên niên kỷ mới, Đông Nam Á dần trở thành trung tâm buôn bán của khu vực địa lý rộng lớn trải dài từ Địa Trung Hải đến Trung Quốc. Ngày càng nhiều thương nhân từ Ấn Độ và Trung Quốc tìm đến đây. Những nhà truyền đạo Ấn Độ cũng truyền bá văn hoá, tôn giáo (Đạo Hindu và Phật giáo), pháp luật, khoa học của họ cho người dân địa phương. 

Sinh hoạt lễ hội thời Angkor

Thời kỳ tiền Angkor: Vương quốc Phù Nam (Funan) và Vương quốc Chân Lạp (Chenla).

Mặc dù, nền văn hoá Ấn Độ thường ảnh hưởng tới những khu vực rộng lớn, nhưng các vương quốc tại đây thời bấy giờ chỉ có quy mô tập trung gần như một thành phố ngày nay. Những vương quốc này thường xung đột với nhau để mở mang bờ cõi. Theo sử sách Trung Quốc thì vào thế kỷ thứ 3 một đối tác chủ chốt của Trung Quốc và cũng là một thế lực lớn trong khu vực là vương quốc Phù Nam nằm ở miền Nam Việt Nam và Campuchia ngày nay. Có bằng chứng cho thấy người Phù Nam nói tiếng Mon-Khmer và đây là một mối liên hệ rõ ràng với nền văn minh Angkor và Campuchia ngày nay.

Phù Nam phát triển vượt trội hơn so với các nước láng giềng, trong đó có cả nước Chân Lạp ở khu vực phía bắc Campuchia. Đến nửa cuối thế kỷ 6, Phù Nam bắt đầu suy thoái, mất phần lãnh thổ phía tây về tay Chân Lạp, lúc này đang ở thời kỳ cực thịnh. Trong khi đó, người Môn cũng chiếm được phần viễn tây của Phù Nam (Thái Lan ngày nay). Sau đó, Chân Lạp tiếp tục xâm chiếm phần còn lại của Phù Nam, đánh dấu sự khởi đầu của thời kỳ tiền Angkor. Thời cực thịnh của Chân Lạp chỉ diễn ra trong thời gian ngắn. Vị vua thứ 3 và cũng là cuối cùng của Chân Lạp – Isanavarman I – đã xây dựng những ngôi đền thời kỳ tiền Angkor như Sambor Prei Kuk, gần thành phố Kom Pong Thom ngày nay. Nếu đi từ Phnom Penh đến Siem Reap, bạn sẽ đi ngang qua Kom Pong Thom. Nếu có thời gian, bạn có thể ghé lại đây để  tham quan những di tích cổ của thời kỳ tiền Angkor.

Dưới sự trị vì của vị vua nối ngôi vua Isanavarman I, Chân Lạp không hợp nhất với các nước nhỏ láng giềng. Điều này chỉ xảy ra dưới thời vua Jayavarman I trị vì vào cuối thế kỷ thứ 7. Theo tài liệu ghi chép lại thì về sau Chân Lạp bị chia thành 2 phần riêng biệt là Lục Chân Lạp (Phía bắc Campuchia và phía nam Lào) và Thuỷ Chân Lạp (khu vực trung tâm và phần phía nam của Campuchia và Tây Nam Bộ Việt Nam ngày nay)

Năm 802 sau công nguyên: Bình minh của thời đại Angkor.

Vua Jayavarman II là vị vua đầu tiên của kỷ nguyên Angkor. Theo truyền thuyết, ông là một hoàng tử Khmer, trở lại Campuchia vào khoảng năm 790 sau công nguyên sau một thời gian dài sống ở đảo Java (Indonesia).  Ông chính là người quyết tâm thống nhất Kambuja dưới sự trị vì của một vị vua duy nhất sau khi chứng kiến những bộ tộc Khmer xung đột lẫn nhau. Ông đưa ra tuyên bố của mình vào năm 802 sau công nguyên trong buổi lễ được tổ chức tại núi Kulen (núi cây vải) phía bắc Siem Reap, thể hiện uy quyền của mình bằng việc lấy biểu tượng Linga làm vật thờ cúng của hoàng gia, nêu rõ ý chí làm “chúa tể vũ trụ” của mình. Trải qua nhiều thế kỷ, Linga vẫn là biểu tượng đặc trưng cho sự trị vì của các đời vua Angkor, tôn giáo, nghệ thuật, và kiến trúc Angkor. 

Sinh hoạt thời Angkor

Rolous: Kinh đô đầu tiên.

Trước năm 802 sau công nguyên, ông đặt kinh đô của mình gần Rolous (cách Siem Reap 13km về phía đông). Có thể là do những suy tính quân sự, ông đã rời từ khu vực Rolous về núi Kulen. Một thời gian sau khi tuyên bố lên ngôi năm 802, ông rời đô trở lại khu vực Rolous và đặt tên là Hariharalaya để tôn vinh hai vị thần Shiva và Vishnu. Sau năm 802, Jayavarman II tiếp tục trấn hưng các vùng nổi loạn và mở rộng vương quốc. Ông trị vì vương quốc của mình cho đến khi băng hà vào năm 850 sau công nguyên.

30 năm sau khi Vua Jayavarman băng hà, Vua Indravarman III đã cho xây dựng đền Preah Ko, ngôi đền chính đầu tiên trong quần thể Rolous để tôn vinh Vua Jayavarman II. Sau đó, vua Indravarman tiếp tục cho xây dựng đền Bakong, công trình vĩ đại đầu tiên mang hình dáng một ngọn núi tạo nên phong cách đền-núi độc đáo sau này. Đến thăm những đền đài này, du khách sẽ được chiêm ngưỡng những chi tiết điêu khắc rất giàu tính nghệ thuật của thời kỳ này.

Vua Indravarman III cũng cho xây dựng hồ chứa nước rộng lớn đầu tiên, qua đó bổ sung thêm một biểu tượng quyền lực của các đời vua Angkor bên cạnh Linga và kiến trúc đền-núi. 

Dời kinh đô về Angkor:

Con trai của vua Indravarman III là Vua Yasovarman I kế tục truyền thống của cha mình, ông cho tiếp tục xây dựng thêm hồ East Baray/ Hồ phía đông và ngôi đền chính cuối cùng trong quần thể Rolous (Lolei), cũng như bắt đầu xây dựng ngôi đền chính đầu tiên trong khu vực Angkor (Phnom Bakheng). Khi sắp hoàn thành công trình trên núi Bakheng năm 893 sau công nguyên, ông đã dời đô về Yasodharapura nằm trong khu vực Angkor. Việc dời đô này nảy sinh từ cuộc đối đầu tranh giành ngai vàng giữa Vua Yasovarman I với anh trai mình, kiến cho Rolous trở nên hoang tàn. 

Koh Ker: Giai đoạn gián đoạn.

Sự việc diễn ra vào năm 928 sau công nguyên khi quyền kế tục hoàng gia bị gián đoạn, hiện vẫn chưa rõ nguyên nhân. Vua Jayavarman IV dời đô từ Angkor về phía bắc 100 km là Koh Ker và nơi đây trở thành kinh đô của đế chế Angkor trong khoảng 20 năm. Khi kinh đô được chuyển trở lại Angkor, nó không nằm trên núi Phnom Bakeng như trước đây mà dịch về phía đông tại khu vực đền mới Pre Rup (năm 961 sau công nguyên).

Thời cực thịnh: Đế chế Khmer tại Angkor.

Việc dời kinh đô về Angkor đã mở ra một kỷ nguyên mở rộng lãnh thổ, chính trị, thương mại. Hoàng gia đã cho xây dựng một số đền đài vĩ đại bao gồm Ta Keo, Banteay Srey, Baphuon, và Hồ tây Baray. Các vị vua trong thời kỳ này đã thể hiện được sức mạnh quân sự của mình, như vua Rajendravarman đã lãnh đạo thành công cuộc chiến chống quân Champa vào giữa thế kỷ 10. Ngay sau khi thiên niên kỷ mới bắt đầu, một giai đoạn biến động chính trị đã diễn ra trong khoảng thời gian 9 năm và kết thúc khi vua Suryavarman I lên nắm quyền vào năm 1010 sau công nguyên. Những thập kỷ sau đó, ông đã lãnh đạo người Khmer dành được rất nhiều thắng lợi quân sự quan trọng bao gồm việc xâm lược lãnh thổ của Đế chế Môn (chiếm được rất nhiều lãnh thổ thuộc Thái Lan hiện nay), qua đó biến toàn bộ phần lãnh thổ phía tây của vương quốc Phù Nam cũ nằm dưới quyền kiểm soát của đế chế Khmer. Một thế kỷ sau, vua Suryavarman II đã lãnh đạo thành công một số cuộc chiến chống lại kẻ thù truyền kiếp phía đông của đế chế Khmer là Champa (nằm ở miền trung và miền nam của Việt Nam ngày nay). 

Quân đội đế chế Khmer áp giải tù binh

Dưới sự trị vì của vua Suryavarman II vào đầu thế kỷ 12, đế chế Khmer ở thời kỳ cực thịnh về chính trị và quân sự. Vua Suryavarman II đã cho xây dựng đền Angkor Wat – một tuyệt tác về kiến trúc – và một số đền đài khác như Thommanon, Banteay Samre, Beoung Melea. Angkor Wat được xây dựng để làm đền thờ nhà nước nhưng cũng có thể đó chính là lăng mộ của vị vua này. Những chiến công hiển hách trong cuộc chiến với quân Champa cũng được ghi lại trên các bức phù điêu trên tường thành phía Nam Angkor Wat.

Cuối thế kỷ 12, tình trạnh nổi loạn xảy ra trong nhiều tỉnh, thất bại trong cuộc chiến chống người Champa, cộng với những xung đột nội bộ đã dần làm suy yếu đế chế Khmer. Năm 1165, trong giai đoạn biến động chính trị khi các vị vua Khmer và các vị vua Champa liên tục gây chiến với nhau, Tribhuvanadityavarman đã lên chiếm quyền tại Angkor. 

Năm 1177, Tribhuvanadityavarman đã bị giết trong một thất bại tồi tệ nhất của người Khmer dưới tay người Champa. Người Champa đã phối hợp với một số bộ phận người Khmer tổ chức tấn công bằng đường thuỷ vào Angkor. Một đội thuyền của Champa đã đi dọc theo sông Tonle Sap lên Biển Hồ Tonle Sap phía nam Angkor. Những trận chiến trên sông và trên bộ đã kết thúc với kết cục kinh đô Angkor bị đốt phá và rơi vào tay người Champa. Bức tường phía nam của đền Bayon đã khắc ghi lại một trận chiến trên sông nhưng không rõ đây là bức tranh mô tả cuộc chiến diễn ra năm 1177 hay một số cuộc chiến diễn ra sau đó. 

Jayavarman VII: Vị vua xây dựng các đền đài.

Người Champa kiểm soát Angkor trong vòng 4 năm cho đến khi vị vua huyền thoại Jayavarman VII tổ chức hàng loạt cuộc tấn công trong suốt nhiều năm. Năm 1181, ông đã đánh đuổi quân Champa khỏi đất Campuchia. Sau khi chiến thắng quân Champa, Jayavarman VII tuyên bố lên ngôi, lấy Phật giáo Bắc Tông (Mahayana) làm quốc đạo, và ngay lập tức bắt đầu giai đoạn xây dựng các đền đài Angkor.

Sử thi Angkor bằng phù điêu

Chiến dịch xây dựng các đền đài của Jayavarman VII là chưa có tiền lệ và diễn ra với tốc độc chóng mặt. Hàng trăm các đền đài đã được xây dựng trong khoảng thời gian không đến 40 năm. Những đền đài mà Jayavarman VII đã xây dựng bao gồm Bayon nổi tiếng với tượng mặt người khổng lồ, kinh đô Angkor Thom, đền Ta Prohm, Banteay Kdei, Preah Khan và hàng trăm đền đài khác. Mặc dù các đền đài được xây dựng trong thời kỳ này rất nhiều và rất hoành tráng nhưng không thể hiện nét kiến trúc riêng biệt mà thường hỗn độn và trùng lắp với kiến trúc của các thời kỳ trước. 

Cùng thời điểm với chiến dịch xây dựng những công trình của mình, vua Jayavarman VII còn chỉ huy cuộc chiến chống lại quân Champa. Năm 1190, ông bắt được vua Champa và giải về Angkor. Năm 1203, ông đã chiếm được toàn bộ vương quốc Champa và qua đó mở rộng lãnh thổ của Đế chế Khmer đến tận bờ biển phía đông thuộc miền nam Việt Nam ngày nay. Qua một vài cuộc chinh phục khác, ông đã mở rộng bờ cõi đế chế Khmer về mọi hướng. 

Chiến dịch xây dựng các đền đài của vua Jayavarman VII cũng đánh dấu sự kết thúc của đế chế Khmer vì sau khi ông băng hà vào năm 1220 không có một đền đài lớn nào được xây dựng thêm. Việc xây dựng một số đền đài, đặc biệt là Bayon, bị ngưng lại trước khi hoàn thành ngay thời điểm vua Jayavarman VII băng hà. Người kế vị vua Jayavarman VII là vua Indravarman II có tiếp tục cho xây dựng một số đền đài của vua Jayavarman VII nhưng không đạt được nhiều thành công. 

Kết thúc một kỷ nguyên:

Mặc dù việc xây dựng các đền đài bị đình trệ nhưng kinh đô Angkor vẫn rất sôi động trong vài năm sau đó. Một phái viên người Trung Quốc tên Zhou Daguan (Chu Đạt Quan) đến thăm Angkor vào cuối thế kỷ 13 và đã mô tả đây là một thành phố đầy sức sống trong cuốn “Phong tục Campuchia”.

Đạo Hindu tái du nhập vào Campuchia dưới thời vua Jayavarman VIII vào thời điểm hầu hết các đền đài Phật giáo tại Angkor đang bị xuống cấp. Bên cạnh đó, hàng ngàn bức tượng Phật cũng đã bị người ta tháo dỡ. Thú vị hơn là một số bức tượng Phật đã bị hoán cải thành các linga. Du khách có thể tìm thấy một số bức như vậy tại đền Ta Prohm và Preah Khan. 

Vua Jayavarman VIII cũng cho xây dựng đền Bà la môn cuối cùng tại Angkor – một tháp nhỏ tại East Prasat ở Angkor Thom. Sau khi vua Jayavarman VIII băng hà, Phật giáo tái du nhập vào Campuchia nhưng dưới hình thức khác. Thay vì Phật giáo Bắc Tông (Mahayana) như trước kia, Phật giáo Nam Tông (Theravada) du nhập và trở thành tôn giáo chính của Campuchia cho đến ngày nay. 

Sau thế kỷ 13, Angkor liên tiếp hứng chịu các cuộc xâm lăng của người Thái từ phía tây dẫn đến việc dời đô. Sau 7 tháng bị vây hãm ở Angkor năm 1431, vua Ponhea Yat đã dời đô từ Angkor về Phnom Penh năm 1432. Việc dời đô này cũng đánh dấu một bước ngoặt đó là chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế thương mại vì một nơi là hợp lưu của các con sông như Phnom Penh sẽ có nhiều lợi thế hơn so với vị trí nằm sâu trong đất liền như Angkor. Sau khi dời đến Phnom Penh, thủ đô của Campuchia còn được chuyển thêm 2 lần nữa, đầu tiên là chuyển đến Lovek rồi sau đó là Oudong, trước khi ấn định lâu dài tại Phnom Penh vào năm 1866. 

Sau khi dời đô khỏi Angkor, các đền đài tại đây vẫn hoạt động nhưng chức năng của chúng thì thay đổi dần theo thời gian. Từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 19, một số nhà thám hiểm và nhà truyền giáo phương Tây đã từng đến Angkor, nhưng người được đông đảo mọi người biết đến với cương vị người khám phá ra Angkor là Henri Mouhot vào năm 1860. Cuốn sách của ông mang tên “Du lịch tại Thái, Lào, Campuchia và An Nam” đã dẫn tới sự bùng nổ du lịch tại Angkor.

 

Share and Enjoy